Bạn đã hiểu đúng khái niệm về Quỹ dự trữ tài chính là gì chưa?

Thứ bảy, 12/10/2019
Quỹ dự trữ tài chính là gì? Nếu không thông thạo các văn bản, chính sách về luật, có lẽ bạn cũng sẽ mơ hồ về khái niệm này. Hãy nắm bắt những thông tin kiến thức được cung cấp ở bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về quỹ này nhé!

1. Trả lời chính xác nhất cho câu hỏi: Quỹ dự trữ tài chính là gì?

Quỹ dự trữ tài chính là gì
Quỹ dự trữ tài chính

Thật ra cũng rất đơn giản khi nói về khái niệm Quỹ dự trữ tài chính là gì? Trên các văn bản luật cho hay, đây là một đơn vị quỹ thuộc về Nhà nước, nó cũng được xây dựng trên cơ sở ngân sách của Nhà nước và có thể được lấy từ những nguồn ngân sách, tài chính ngoài ngân sách Nhà nước nhưng vẫn trên cơ sở quy định của Pháp luật. Vậy ngân sách Nhà nước bạn nên hiểu như thế nào cho đúng? Đó chính là tổng hợp toàn bộ các khoản tài chính thu và chi đã được lên kế hoạch và hạch toán từ trước của Nhà nước, nhằm đảm bảo và đáp ứng được các nhu cầu về thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước, ngân sách Nhà nước do các cơ quan, đơn vị Nhà nước có thẩm quyền và quyền hạn quyết định. Một điều đáng nói ở đây là, Quỹ dự trữ tài chính phải có số dư tại mỗi cấp không được vượt quá 25%, tỷ lệ này nằm trong dự toán ngân sách thu chi của Nhà nước hằng năm đã được quy định, số dư này không bao gồm các khoản chi từ các nguồn tài chính bổ sung. 

2. Điểm khác giữa Quỹ dự trữ tài chính và Quỹ dự phòng ngân sách

Đến đây bạn đã hiểu Quỹ dự trữ tài chính là gì chưa? Tuy nhiên, trên thực tế, do xuất phát từ cái tên gọi, nên nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa hai khoản quỹ, đó là Quỹ dự trữ tài chính và Quỹ dự phòng ngân sách. Để không còn mơ hồ và “đoán già đoán non” về hai quỹ này, chúng ta cùng tìm hiểu sự khác nhau giữa Quỹ dự phòng ngân sách và Quỹ dự trữ tài chính là gì nhé!

Quỹ dự trữ tài chính là gì-phân biệt
So sánh và phân biệt với Quỹ dự phòng ngân sách 

2.1. Về định nghĩa và cơ sở pháp luật

Khác với định nghĩa Quỹ dự trữ tài chính là gì, quỹ dự phòng ngân sách được quy định tại khoản 8, điều 4, Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 được hiểu như sau: quỹ dự phòng ngân sách Nhà nước là một khoản tài chính trong kế hoạch dự toán thu chi ngân sách ở từng cấp ngân sách, đã được cơ quan có thẩm quyền, quyền hạn quyết định, tuy nhiên quỹ này chưa được phân bổ. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt ở đây là gì chưa? Đó chính là tính phân bổ trong các quỹ, dự phòng ngân sách đúng như tên gọi của nó, chỉ mang tính dự phòng, chưa được phân bổ. 

Về cơ sở pháp luật, quỹ dự phòng ngân sách dựa trên cơ sở văn bản pháp luật điều 10, Luật Ngân sách Nhà nước và điều 7, Nghị định 163 năm 2016 của Chính phủ ban hành. Còn Quỹ dự trữ tài chính dựa trên cơ sở pháp luật đó là điều 11, Luật Ngân sách Nhà nước và điều 8, Nghị định số 163 của Chính phủ, ban hành năm 2016.

2.2. Về cấp thành lập

Nếu như cấp thành lập của quỹ dự phòng ngân sách bao gồm tất cả các cấp Ngân sách thì cấp thành lập của Quỹ dự trữ tài chính rộng hơn, nó bao gồm cấp Chính phủ, cấp Ủy ban nhân dân tỉnh và cấp Thành phố trực thuộc trung ương. 

2.3. Về thẩm quyền quyết định sử dụng

Thẩm quyền quyết định sử dụng của Quỹ dự trữ tài chính như sau:

+ Quyền quyết định sử dụng đối với Quỹ dự trữ tài chính cấp TW: do Bộ trưởng BTC quyết định ứng quỹ để giải quyết những nhu cầu về các vấn đề liên quan trực tiếp đến quốc gia, được quy định tại Điểm a, khoản 4 điều này. 

+ Quyền quyết định sử dụng đối với Quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW: UBND cấp tỉnh, UBND thành phố quyết định sử dụng trong phạm vi khoản 4 tại điểu này. 

Thẩm quyền quyết định sử dụng của Quỹ dự phòng ngân sách như sau:

+ Quyền quyết định sử dụng đối với Quỹ dự phòng ngân sách cấp TW do Chính phủ quy định, định kỳ báo cáo với UBTV Quốc hội mục đích và những vấn đề liên quan đến việc sử dụng Quỹ dự phòng ngân sách TW tại kỳ họp gần nhất. 

+ Quyền quyết định sử dụng đối với Quỹ dự phòng ngân sách các cấp dưới do UBND các cấp quy định sử dụng vào mục đích đáp ứng các nhu cầu trong nội bộ cấp, báo cáo với Thường trực HĐND và HĐND cùng cấp việc sử dụng định kỳ tại  cuộc họp gần nhất. 

2.4. Về nguồn thành lập

Về nguồn thành lập Quỹ dự trữ tài chính được quy định tại Khoản 1, Điều 11, Luật Ngân sách Nhà nước như sau:

+ Quỹ dự trữ tài chính được lấy từ nguồn bố trí ngân sách trong dự toán chi ra ngân sách hằng năm của Nhà nước quy định.

+ Quỹ dự trữ tài chính được lấy từ nguồn kết dư ngân sách theo quy định trong Luật NSNN, tại Khoản 1, Điều 72.

+ Quỹ dự trữ tài chính được lấy từ nguồn tăng thu ngân sách theo quy định trong Luật NSNN, tại Khoản 2, Điều 59.

+ Quỹ dự trữ tài chính được lấy từ nguồn lợi nhuận (lãi) tiền gửi Quỹ dự trữ tài chính.

+ Quỹ dự trữ tài chính được lấy từ các nguồn tài chính, ngân sách khác, tuy nhiên phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật. 

Quỹ dự trữ tài chính phải có số dư tại mỗi cấp không được vượt quá 25%, tỷ lệ này nằm trong dự toán ngân sách thu chi của Nhà nước hằng năm đã được quy định, số dư này không bao gồm các khoản chi từ các nguồn tài chính bổ sung. 

Về nguồn thành lập Quỹ dự phòng ngân sách được quy định tại Khoản 1, Điều 10, Luật Ngân sách Nhà nước được lấy từ dự toán chi ngân sách hằng năm của Nhà nước. Quỹ dự phòng ngân sách phải có mức bố trí dự phòng tại mỗi cấp không được vượt quá khoảng cách 2 - 4%, tỷ lệ này nằm trong tổng chi ngân sách riêng ở mỗi cấp.  

2.5. Về mục đích sử dụng

Mục đích sử dụng Quỹ dự trữ tài chính được quy định tại Khoản 2, Điều 11, cụ thể ở các trường hợp sử dụng như sau:

+ Được sử dụng Quỹ dự trữ tài chính cho trường hợp cho ngân sách tạm ứng, nhằm mục đích phục vụ và đáp ứng các nhu cầu, yêu cầu chi theo dự toán chi ngân sách. Tuy nhiên chỉ trong điều kiện nguồn thu không thể tổng hợp và tập trung kịp, nhưng đã buộc phải hoàn trả ngay vào ngân sách trong năm. 

+ Được sử dụng Quỹ dự trữ tài chính cho trường hợp thu ngân sách của Nhà nước hay trong trường hợp vay ngân sách với mục đích bù đắp bội chi do không thể đạt được mức quy định về dự toán ngân sách, do Quốc hội, HĐND quyết định, được thực hiện trong các nhiệm vụ, yêu cầu phòng và chống hay nhiệm vụ, yêu cầu khắc phục các hậu quả do thiên tai, dịch bệnh, thảm họa, có mức độ rất nghiêm trọng, lan tỏa trên quy mô lớn. Đồng thời trong việc thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hay một số nhiệm vụ mang tính cấp bách, lập tức, phát sinh ngoài dự toán mà mặc dù đã xây dựng, hạch toán và kiểm tra lại ngân sách, đã sử dụng hết số tài chính trong ngân sách, nhưng vẫn không đủ nguồn đáp ứng. Như vậy, có thể sử dụng Quỹ dự trữ tài chính nhằm triển khai các nhiệm vụ, tuy nhiên chỉ cho phép ở mức sử dụng tối đa không quá 70% số dư đầu năm trong năm đó.

Mục đích sử dụng Quỹ dự phòng ngân sách được quy định tại Khoản 2, Điều 10, cụ thể ở các trường hợp sử dụng như sau:

+ Được sử dụng Quỹ dự phòng ngân sách cho trường hợp thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu chi để phòng, chống, hay khắc phục các hậu quả do thiên tai, dịch bệnh, thảm họa, đói nghèo,.. hay một số nhiệm vụ cấp bách về quốc phòng an ninh,.. hay các nhiệm vụ khác tại nội bộ cấp chưa được dự toán. 

+ Được sử dụng Quỹ dự phòng ngân sách cho trường hợp thực hiện nhiệm vụ chi với mục đích hỗ trợ cho ngân sách tài chính ở cấp dưới, nhằm đáp ứng nhiệm vụ đã quy định trong khoản a điều này, trong điều kiện ngân sách cấp dưới đã sử dụng nguồn tài chính của quỹ dự phòng trong nội bộ cấp mình nhưng nhiệm vụ vẫn chưa được giải quyết. 

+ Được sử dụng Quỹ dự phòng ngân sách cho trường hợp chi để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ các địa bàn, địa phương khác đã được quy định tại điểm c, điều 9. 

Như vậy, chúng ta đã phân tích xong khái niệm Quỹ dự trữ tài chính là gì và những vấn đề quy định xung quanh nó. Nếu cá nhân bạn đọc học ngành luật và đang làm quen với các văn bản luật này, thì bài viết trên hy vọng sẽ mang lại kiến thức tốt nhất cho bạn. 

Tác giả :Linh Chi